Phản bác các quan điểm thù địch, sai trái phủ định quan điểm của Đảng ta về đối ngoại
1. Nhận diện các quan điểm thù địch, sai trái phủ định quan điểm của Đảng ta về lĩnh vực đối ngoại
Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại. Mặc dù đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng đã đem lại những thành tích nổi bật không thể phủ nhận, song thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã không ngừng chống phá, đưa ra các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại của Đảng ta. Chúng cho rằng:
Một là, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ” “lạc hậu”, “không còn phù hợp” và đã trở thành “lực cản” đối sự phát triển của đất nước.
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong nước ra sức câu kết với lực lượng bên ngoài chống phá đườnglối đối ngoại của Đảng ta như: Các tổ chức phi chính phủ có định kiến với Việt Nam, các tổ chức phản động người Việt lưu vong tại nước ngoài, điển hình là Việt Tân, các tổ chức xã hội dân sự, các đài quốc tế BBC, RFA, RFI, VOA… chúng tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với “vận mệnh quốc gia dân tộc”, “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.
Chúng lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế theo họ, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của thế giới bên ngoài, đã thực sự “lỗi thời”, “không còn phù hợp”, và đã trở thành “lực cản” đối với sự phát triển đất nước. Cho nên, Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “tự trói tay mình”, là chính sách “không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước. Từ đó, chúng yêu cầu Đảng ta phải thay đổi nội dung đường lối đối ngoại để “hội nhập quốc tế” và “tạo điều kiện phát triển đất nước”.
Hai là, phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam, cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình và “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian gần đây, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ và khi Việt Nam và Mỹ trở thành đối tác chiến lược toàn diện, trên một số trang mạng phản động: “Daploisongnui”, “Đài Á Châu tự do”, “Thongluan”, “Baotiengdan”... các thế lực thù địch, phản động lại ra sức đưa ra những luận điệu phiến diện, một chiều, “Việt Nam đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia”; “Việt Nam đang ngả về phương Tây”; “sẽ có một vận hội mới với phong trào dân chủ ở Việt Nam”;… Việt Nam đã “nghiêng về bên này để chống bên kia”, đã “từ bỏ” chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của mình.
Ba là, xuyên tạc trường phái đối ngoại, ngoại giao “cây tre Việt Nam” của Đảng ta
Chúng cho rằng, “Ngoại giao cây tre dẫn Việt Nam vào ngõ cụt”. Cụ thể, chúng lập luận rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ ra từ “ngoại giao cây tre” thực chất chỉ là để lòe dân. Thiên hạ thừa biết nó là kiểu khôn lỏi, đi hai hàng, gió chiều nào che chiều ấy, chơi với tất cả, làm bạn với mọi nước, thực chất là không chơi với ai. Quanh đi quẩn lại vẫn là tự cô lập mình, mình chơi với mình. Khi bất đồng giữa các nước lớn gay gắt hơn nữa, thì chính sách “ngoại giao cây tre” sẽ dẫn Việt Nam vào ngõ cụt. Bất kì phe nào cũng không tin tưởng đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam”. Từ đó, chúng ra sức kêu gọi “thay đổi” thể chế chính trị, xóa bỏ sự “độc đảng” ở Việt Nam để có đường lối đối ngoại đúng đắn. Kích động tâm lý phản kháng, cổ súy cho các hành động chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị trong ngoại giao, làm cho các quốc gia hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam; nhằm hạ bệ vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam; xuyên tạc nhằm làm cho các đối tác thiếu niềm tin, e ngại trong xúc tiến hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với Việt Nam; từ đó cô lập Việt Nam với thế giới.
Thực tế cho thấy, các thế lực thù địch dùng nhiều ngón đòn và các chiêu trò thâm hiểm, với những giọng điệu khác nhau, khi thì đứng hẳn về phía đối lập ra sức xuyên tạc chống phá, khi thì như “người trong cuộc” thể hiện “thiện chí”, “tâm huyết” đối với sự nghiệp cách mạng và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, những luận điệu và sự “tâm huyết” này đều thể hiện một thái độ và cái nhìn thiếu thiện chí, méo mó, sai lệch và thù địch đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và trái với hoạt động công tác đối ngoại của Việt Nam.
2. Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái phủ định quan điểm của Đảng ta về lĩnh vực đối ngoại
Việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ trên cơ sở các luận điệu phi lý, thiếu căn cứ hòng phủ nhận đường lối đối ngoại của Đảng ta là điều không thể chấp nhận, thể hiện thông qua các vấn đề sau:
Thứ nhất, trong thực tiễn lịch sử, dân tộc ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đem sức ta để giải phóng cho ta và bảo vệ Tổ quốc.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc: “Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, ông cha ta luôn chú trọng bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của ngoại giao Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hoà hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa”2. Đồng thời, luôn nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quan hệ đối ngoại của mình.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị là Chủ tịch nước, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính là người đặt nền móng và trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt nền ngoại giao cách mạng ngày càng phát triển. Người đã nhiều lần khẳng định vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, của mặt trận ngoại giao, Người chỉ rõ: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”3; ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy ; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”4 .
Cùng với luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, bạn bè truyền thống và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn; luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”, “hóa giải tương khắc, kiến tạo tương đồng”, “thêm bạn, bớt thù”... vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, dùng ngoại giao để đẩy lùi chiến tranh, xung đột; tự lực, tự cường gắn với đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Chính tư tưởng đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường đúng đắn, sáng tạo cùng với thực tiễn hoạt động ngoại giao phong phú, sinh động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành mẫu mực của nền ngoại giao cách mạng, góp phần tạo nên những thắng lợi hết sức to lớn, làm rạng rỡ lịch sử dân tộc Việt Nam.
Hai là, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp thực tiễn.
Tiếp nối những thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là từ đổi mới đến nay, chính đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đã trở thành mặt trận tiên phong trong phá thế bị bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ quốc tế, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xuyên suốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc cũng như đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng của thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán quan điểm: Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII), về Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Đồng thời, Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược; giúp đỡ nước khác khi được yêu cầu bằng khả năng của mình, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Đặc biệt, Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những khẳng định trên cho thấy mong muốn, thiện chí và lập trường trước sau như một của Việt Nam trong hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng là vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không có xung đột, chiến tranh.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”5. Đồng thời, nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.
Ba là, thành tựu hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới.
Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, sau gần 40 năm đổi mới, đối ngoại đã thực sự là mũi nhọn “tiên phong” trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đến nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó 3 nước quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện (Cuba, Lào, Campuchia); 8 nước quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Pháp); 12 nước quan hệ đối tác chiến lược; 12 nước quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Từ một nước có nền kinh tế chậm phát triển, bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta đã trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được 72 quốc gia công nhận; đã ký kết hơn 500 hiệp định song phương và đa phương, 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) (tổng cộng với 53 nước), trong đó có 3 FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn rất cao và mạng lưới liên kết kinh tế sâu rộng với hầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới, góp phần quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Về đối ngoại quốc phòng đa phương, Việt Nam đã tích cực tham gia có trách nhiệm và chủ động đóng góp xây dựng, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực tại các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh của khu vực và quốc tế, như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul,... Đến nay, Việt Nam đã tham gia đầy đủ, liên tục tất cả các cơ chế hợp tác quân sự, quốc phòng do ASEAN dẫn dắt; tham gia đầy đủ, có trách nhiệm vào các diễn đàn an ninh quốc tế và khu vực.
Rõ ràng, cả lịch sử và hiện tại, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, trong một thế giới luôn biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, trước sức ép chọn bên, chọn phe ngày càng gay gắt, nặng nề như hiện nay. Chính đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và quan điểm nhất quán “chọn chính nghĩa, lẽ phải; không chọn bên, chọn phe” của Đảng ta đã phát huy vai trò “tiên phong” của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”6. Đồng thời, là minh chứng khách quan, thuyết phục nhất đập tan mọi âm mưu xuyên tạc, phủ định quan điểm của Đảng ta về đối ngoại trong thời gian qua./.
Tin khác
- Rèn chí lớn cho thanh niên trong thời đại mới
- “Thọc gậy bánh xe” – Chiêu trò phá hoại tinh vi cần nhận diện và đấu tranh
- Giữ vững chí khí chiến đấu trong cán bộ, đảng viên
- Làm thế nào để lòng biết ơn không chỉ là khẩu hiệu trong thế hệ trẻ?
- Để lịch sử trở thành nguồn động lực sống mãnh liệt của thanh niên
- Kinh tế tư nhân – Động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay
- Đột phá về khoa học công nghệ - Đòn bẩy chiến lược đưa Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới
- Nghị quyết - công cụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng
- Đơn thư nặc danh tác hại khôn lường
- Chiến thắng phát xít - Bài học lịch sử còn nguyên giá trị trong thế kỷ XXI